HIỆU QUẢ MÔ HÌNH PHỐI HỢP LỰC LƯỢNG GIÁO DỤC TRONG QUẢN LÝ NỀN NẾP VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC VIÊN GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TẠI TỈNH LÀO CAI
Lĩnh vực: Khoa học Giáo dục
Khoa: Ngoài trường
Lượt xem: 28
Bài viết trình bày và đánh giá mô hình phối hợp sáu lực lượng trong giáo dục đạo đức, quản lý nền nếp và hỗ trợ điều chỉnh hành vi học viên tại ba Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên ở tỉnh Lào Cai. Sáu lực lượng được xác định gồm Ban Giám đốc, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, Đoàn Thanh niên, cha mẹ học viên và lực lượng địa phương. Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả so sánh trước - sau, dựa trên dữ liệu quản lý tổng hợp về xếp loại rèn luyện và các nhóm vi phạm nền nếp. Kết quả tại Trung tâm GDNN-GDTX Văn Yên sau một năm áp dụng cho thấy tỷ lệ học viên xếp loại Tốt tăng từ 85,71% lên 87,37%, mức Chưa đạt giảm về 0; nghỉ học không phép từ 3 buổi trở lên giảm từ 7,90% xuống 4,46%; vi phạm trật tự, an toàn giao thông giảm từ 13,98% xuống 8,92%. Kết quả triển khai mở rộng tại Yên Bình và Trấn Yên cũng cho thấy xu hướng cải thiện: tỷ lệ Tốt tăng từ 60,43% lên 67,65%, các nhóm vi phạm chủ yếu đều giảm. Nghiên cứu cho thấy mô hình có giá trị thực tiễn trong phạm vi các đơn vị được khảo sát và có thể tham khảo đối với các Trung tâm GDNN-GDTX có điều kiện tương đồng.
This article presents and evaluates a six-stakeholder collaborative model for moral education, school discipline management, and behavioral support for learners at three Vocational and Continuing Education Centers in Lao Cai province, Viet Nam. Six educational stakeholders include the Board of Directors, homeroom teachers, subject teachers, the Youth Union, learners’ parents and local authorities or community forces. The study employed a pre– post comparative descriptive design using aggregated administrative data on conduct classification and disciplinary violations. After one year of implementation at Van Yen Center for Vocational Education and Continuing Education, the proportion of learners rated Good increased from 85.71% to 87.37%, while the Not achieved rate decreased to 0; unexcused absence of three sessions or more declined from 7.90% to 4.46%; and road traffic safety violations decreased from 13.98% to 8.92%. The expanded implementation at Yen Binh and Tran Yen also showed positive changes: the Good rate increased from 60.43% to 67.65%, and major violation indicators declined. The findings suggest that the model is practically valuable within the surveyed context and may serve as a reference for comparable vocational and continuing education centers.